English (United Kingdom)Tiếng Việt (Vietnamese)
 
 
 
 
TIN NÓNG
Tin tức
Giảm lãi suất: Đã “hẹn” mà khó đến? PDF. In Email
Viết bởi Quản trị 1   
Thứ tư, 08 Tháng 9 2010 19:29
alt align=left src=http://aat.com.vn/images/stories/033.jpg
AAT - Đã đến tháng 9. Lộ trình giảm lãi suất “bước 2” đã gần. Nhưng để giảm tiếp, những thuận lợi trên thực tế thì ít, khó khăn thì nhiều.

Ngày 3/9, Chính phủ ban hành Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8/2010; trong đó tiếp tục có đánh giá: “Lãi suất cho vay của các ngân hàng vẫn còn ở mức khá cao”, và đây là một trong những khó khăn của tình hình kinh tế - xã hội từ nay đến cuối năm.

Trước đó, trong các nghị quyết tháng 5, 6 và 7, Chính phủ đã nhấn mạnh đến yêu cầu Ngân hàng Nhà nước xem xét để định hướng tiếp tục giảm lãi suất huy động và cho vay VND.

“Điểm hẹn” tháng 9

Nhớ lại, vào ngày 25/6/2010, tổng giám đốc một số ngân hàng thương mại tại Tp.HCM và Hà Nội đã có buổi làm việc với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và đại diện Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA). Cùng ngày, kết quả cuộc họp đã được Ngân hàng Nhà nước công bố.

Nội dung chính của cuộc họp là sự thống nhất định hướng và lộ trình giảm lãi suất huy động và cho vay VND: “bước 1”, từ tháng 7, lãi suất huy động rút xuống khoảng 11%/năm, và “bước 2”, phấn đấu vào cuối tháng 9/2010 xuống mức khoảng 10,2% - 10,5%/năm.

Định hướng đó nhằm tạo điều kiện để hạ lãi suất cho vay, tiến dần tới chủ trương lãi suất huy động VND khoảng 10% và cho vay khoảng 12% mà Chính phủ dự tính trước đó.

Đúng hẹn, đến 5/7, hầu hết các ngân hàng thương mại đồng loạt rút lãi suất huy động VND. Nhiều thành viên “kéo thẳng” lãi suất huy động thống nhất 11,2%/năm ở hầu hết các kỳ hạn. Lãi suất cho vay các nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh cũng hạ dần về khoảng 12,5% - 15%/năm, tuy theo các nhóm đối tượng và chính sách ưu đãi.

Thế nhưng, đến tận tuần từ 6 - 12/8, một số thành viên như Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Mê Kông, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải vẫn áp dụng mức lãi suất cao hơn mức đồng thuận của các thành viên Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) với lãi suất 11,25% - 11,3%/năm. Và phải đến tuần kế tiếp mới rút về mức cao nhất 11,2%/năm (theo thông tin cập nhật hàng tuần của Ngân hàng Nhà nước).

Nay, đã bắt đầu tháng 9, thị trường chờ đợi khả năng các ngân hàng thực hiện tiếp “bước 2” như đã dự tính tại cuộc họp nói trên; lãi suất huy động VND phấn đấu giảm về 10,2% - 10,5%/năm, tạo điều kiện để có thể giảm tiếp lãi suất cho vay.

Gánh nặng 0,75%

Chuẩn bị cho cuộc họp nội bộ vào hôm sau, gần nửa đêm, lãnh đạo một ngân hàng thương mại tại Hà Nội liên hệ với phóng viên với câu hỏi: tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng hiện nay là bao nhiêu?

Không phải ngẫu nhiên con số đó được tìm hiểu. Thực tế, một con số công bố chính thức và cụ thể hiện không có nguồn. Nhưng nếu “lần” theo thông tin mà đại diện Ngân hàng Nhà nước đưa ra gần đây?

Tại cuộc họp báo về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5/2010, ông Nguyễn Ngọc Bảo, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), có đưa ra thông tin: tính đến cuối tháng 5/2010, tổng dư nợ cho vay tín dụng bất động sản đạt 192.000 tỷ đồng; tỷ trọng tín dụng cho vay bất động sản chiếm 10% trong tổng dư nợ tín dụng. Căn cứ vào những thông tin này, con số tổng dư nợ có thể ước tính một cách tương đối, vào khoảng hơn 1,92 triệu tỷ đồng.

Trở lại cuộc gọi của lãnh đạo ngân hàng nói trên, sự quan tâm của ông là phía sau con số đó là gì khi thực hiện chính sách mới; hay theo cách ông nói: “Gánh nặng 0,75%”.

Theo quy định tại Điều 9 của Quyết định 493 ngày 22/4/2005, “Các tổ chức tín dụng phải trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổng giá trị của các khoản nợ. Trong thời hạn tối đa năm năm kể từ khi quyết định này có hiệu lực, tổ chức tín dụng phải trích lập đầy đủ số tiền dự phòng chung”. Nay, đã đến hạn 5 năm.

0,75% đó đồng nghĩa với việc các ngân hàng phải trích dự phòng chung gần 15.000 tỷ đồng (theo con số ước tính tổng dư nợ nói trên), thay vì có thể cho vay hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề chi phí của các nhà băng.

Liên quan đến khoản trích lập này, VNBA cũng đã có kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước. Như đã đề cập ở một bài viết gần đây trên VnEconomy, VNBA cho rằng, trong điều kiện hoạt động của các ngân hàng thương mại hiện nay, tỷ lệ trích lập dự phòng chung 0,75% trên là quá cao. Vì hiện nay, chênh lệch lãi suất huy động và lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại rất thấp, khoảng 2%, thậm chí có ngân hàng thương mại mức chênh lệch này còn 1,5% - 1,8%.

“Việc các ngân hàng thương mại còn phải trích lập dự phòng chung theo quy định là 0,75% trên dư nợ cho vay từ nhóm 1 đến nhóm 4 sẽ rất khó cho các ngân hàng đảm bảo hiệu quả kinh doanh và thực hiện chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc giảm lãi suất cho vay”, VNBA lập luận.

Theo đó, Hiệp hội đề nghị Ngân hàng Nhà nước cho giảm tỷ lệ này từ 0,75% xuống còn 0,5%. Đề nghị này hiện còn để ngỏ.

Và cũng không mới, nếu Thông tư số 13 của Ngân hàng Nhà nước vẫn giữ nguyên quy định và lộ trình thực hiện (từ 1/10/2010), việc hạ lãi suất của các ngân hàng sẽ có thêm trở ngại.

Trong bản tin mới đây, một công ty chứng khoán nhận định: “Thông tư 13 có hiệu lực từ ngày 1/10/2010 đưa ra quy định rất chặt chẽ về tỷ lệ cho vay/vốn huy động của các tổ chức tín dụng. Theo đó, ngân hàng thương mại chỉ được dùng 80% vốn huy động để cho vay ra bên ngoài. Tuy nhiên tiền gửi không kì hạn của các tổ chức lại không được tính vào phần để cho vay, trong khi ước tính loại tiền gửi này chiếm từ 15-20% tổng vốn huy động.

Với quy định này, ngân hàng hoặc là phải hạn chế cho vay hoặc tăng cường huy động từ dân cư và doanh nghiệp. Hạn chế cho vay là không khả thi vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận ngân hàng, trong khi ngân hàng có thể đẩy mạnh vốn huy động bằng cách tăng lãi suất tiền gửi. Do vậy chúng tôi cho rằng Thông tư số 13 chính là một bước cản cho định hướng giảm lãi suất của Ngân hàng Nhà nước”.

Đã “hẹn” mà khó đến?

Từ trung tuần tháng 8 vừa qua, nhu cầu vay vốn trên thị trường mở (OMO) của các ngân hàng đột ngột giảm mạnh. Có những nguyên do, trong đó tình hình thanh khoản và vốn khả dụng tốt là một yếu tố được tính đến. Điều này cũng được phản ánh trong một số phân tích chính thống đưa ra gần đây, như một tín hiệu góp phần ủng hộ cho hướng giảm tiếp lãi suất.

Nhưng, đã “hẹn” mà khó đến. Trước mắt sức ép thực hiện những quy định mới có ảnh hưởng đến nguồn vốn và lợi nhuận các ngân hàng nói trên đang đè nặng. Kết quả rà soát và kiểm tra lại một số nội dung của Thông tư 13 hiện chưa công bố để có thể điều chỉnh hay không, đề nghị của VNBA về giảm tỷ lệ 0,75% đó cũng chưa có câu trả lời được công bố, trong khi lạm phát đang có xu hướng tăng trở lại trước khi vào “mùa cao điểm” cuối năm…

Để hạ lãi suất huy động về 10,2% - 10,5%/năm như dự tính tại cuộc họp ngày 25/6, hay về 10%/năm như định hướng mà Chính phủ đề ra, tạo điều kiện để giảm lãi suất cho vay, có lẽ phải chờ những động thái cụ thể từ Ngân hàng Nhà nước.
Theo TBKTVN
Cập nhật ngày Thứ tư, 08 Tháng 9 2010 19:36
 
Thông tư 13: Chưa hoàn hảo, nhưng đúng hướng PDF. In Email
Viết bởi Quản trị 1   
Thứ hai, 16 Tháng 8 2010 19:23

AAT - Kể từ khi các chuẩn mực quốc tế về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng được nghiên cứu và  áp dụng vào Việt Nam song hành cùng tiến trình tự do hóa tài chính từ cuối thập niên 1980 đến nay, chưa bao giờ cơ quan quản lý và điều tiết - cụ thể ở đây là Ngân hàng Nhà nước - lại vấp phải những phản ứng từ các tổ chức tài chính như với Thông tư 13/2010/TT-NHNN, quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng.


Tuy nhiên, theo quan điểm của người viết, dù có một số điểm cụ thể cần phải bàn thêm, thậm chí có thể nên điều chỉnh cho phù  hợp hơn, nhưng Thông tư 13 có lẽ là một trong những bước tiến hết sức tích cực trong việc xây dựng những nền tảng cần thiết về đảm bảo an toàn, nhằm có một hệ thống tài chính lành mạnh và ổn định thực, hiện tốt vai trò phân bổ vốn trong nền kinh tế.

Những điểm mấu chốt

Có rất nhiều quy định chi tiết trong một văn bản 31 trang, tuy nhiên Thông tư 13 có ít nhất 3 điểm mấu chốt gồm: (1) tăng hệ số đủ vốn; (2) hạn chế việc tham gia vào các hoạt động liên quan đến kinh doanh chứng khoán và kinh doanh bất động sản của các ngân hàng thương mại; (3) tăng cường quy định về đảm bảo khả năng thanh khoản.

Nâng cao tiềm lực tài chính của các tổ chức tài chính

Với việc nâng hệ số đủ vốn lên 9% trong Thông tư 13 và quy định về vốn pháp định tối thiểu theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ là cơ sở hết sức quan trọng để nâng cao tiềm lực tài chính của các tổ chức tài chính.

Basel II chỉ  quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8%, nhưng đây chính là một trong những điểm yếu của nó như đã phân tích ở bài viết về Basel. Dự kiến trong phiên bản sắp tới, hệ số đủ vốn CAR sẽ được nâng lên. Do vậy, việc đưa hệ số CAR lên 9% như Thông tư 13 là phù hợp với xu hướng chung của toàn cầu.

Đối với quy định về vốn pháp định tối thiểu 3.000 tỷ đồng, thông lệ quốc tế đã không đưa ra bất kỳ một tiêu chuẩn hay giới hạn này vì quan điểm của họ đủ vốn là được. Tuy nhiên trong bối cảnh nếu để quy mô ngân hàng quá nhỏ, thì rất dễ để một cá nhân hay doanh nghiệp thâu tóm và biến ngân hàng thành một đơn vị huy động vốn cho họ.

Việc quy định vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng và thậm chí còn cao hơn nữa sẽ có hai tác dụng. Thứ nhất, tránh tình trạng bị chi phối bởi một hay một vài cá nhân, điều đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống ngân hàng Việt Nam vào cuối thấp niên 1990, như đã phân tích trong bài viết "Hệ thống tài chính Việt Nam và sự tiến hóa đến Thông tư 13" trên VnEconomy. Thứ hai, giảm được vấn đề về tâm lý ỷ lại và lựa chọn bất lợi. Với một mức vốn đáng kể thì chủ sở hữu ngân hàng sẽ hành động có trách nhiệm hơn để bảo vệ tài sản của họ.

Hơn thế những giới hạn về sở hữu, cấp tín dụng nhằm hạn chế sự lũng đoạn tổ chức tín dụng đã được quy định chặt chẽ trong các quy định hiện hành.

Hạn chế ngân hàng thương mại tham gia vào các hoạt động kinh doanh nhiều rủi ro

Thông tư 13 và các quy định hiện hành đã giới hạn khá chặt chẽ việc tham gia vào các hoạt động kinh doanh chứng khoán và bất động sản của các ngân hàng thương mại. Trong đó, điểm nổi bật trong quy định lần này là nâng trọng số rủi ro cho các khoản vay trong hai lĩnh vực này lên đến 250%.

Một điểm cần lưu ý đối với cơ quan điều tiết trong lĩnh vực này là cần tăng cường hơn nữa việc tách bạch giữa các hoạt động của ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư, nhất là trong bối cảnh biên giới giữa hai lĩnh vực này đã mờ đi rất nhiều, nhất là việc cấp tín dụng và mua chứng khoán.

Tăng cường khả năng và quản lý thanh khoản

Khả năng thanh khoản và quản lý thanh khoản được quy định và chặt chẽ rõ ràng trong Thông tư 13 với hai điểm đáng chú ý.

Thứ  nhất, yêu cầu các tổ chức tín dụng phải tính toán và quản lý các tỷ lệ về khả năng chi trả hàng ngày. Đây là một thách thức lớn đối với một số ngân hàng và chưa có thói quen làm việc một cách chuyên nghiệp của một số người. Nhưng đây là một điều kiện bắt buộc với bất kỳ một tổ chức tài chính nào nếu muốn trở nên hiện đại.

Thứ  hai, quy định về tỷ lệ tối đa nguồn vốn huy động được sử dụng để cấp tín dụng. Tuy vẫn có những tranh cãi và điểm không rõ  ràng khi tính toán và quy định tỷ lệ này, nhưng đây là một trong những giới hạn để một tổ chức tài chính không rơi vào tình trạng mất thanh khoản khi sử dụng vốn quá mức, nhất là  việc sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn và không ổn định (vay liên ngân hàng chẳng hạn) để cho vay hay đầu tư dài hạn.

Một vài vấn đề cần xem xét thêm

Về cơ bản, Thông tư 13 và những quy định khác về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên, một số vấn đề như những quy định về định nghĩa vốn huy động tại điều 18 hay tiến độ thực hiện là những vấn đề có thể cần được xem xét, để đảm bảo văn bản luật này đi vào cuộc sống và có tác dụng tích cực đến sự phát triển của hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam.

Việc định nghĩa nguồn vốn huy động không rõ ràng sẽ gây ra những tác dụng ngược làm cho hệ thống kế toán và công bố thông tin kém minh bạch hơn. Ví dụ, thay vì để tiền gửi ở tài khoản thanh toán (không kỳ hạn), các tổ chức tài chính có thể thỏa thuận với khách hàng của họ chuyển sang tài khoản có kỳ hạn với thỏa thuận khách hàng được sử dụng như tài khoản thanh toán.

Hơn thế, trừ những trường hợp đặc biệt như tiền gửi của kho bạc (đáng lý ra phải để tại Ngân hàng Nhà nước), rất nhiều khoản tiền gửi của các doanh nghiệp hoạt  động thường xuyên có tính ổn định nên vẫn có thể cho vay.

Nên chăng trong trường hợp này, Ngân hàng Nhà nước công bố một danh sách tiền gửi của những tổ chức không được sử dụng để cấp tín dụng thay vì cấm tất cả như hiện nay.

Tín hiệu lớn lên của hệ thống tài chính Việt Nam

Việc phản ứng một cách công khai của các tổ chức tài chính cho thấy một bước tiến đáng kể trong tương tác giữa cơ quan quản lý giám sát và điều tiết hoạt động ngân hàng với các đối tượng chịu sự điều chỉnh.

Điều này cho thấy, các tổ chức tài chính đã có một sự am hiểu chuẩn bị và đánh giá một cách chi tiết và cụ thể những tác động của một chính sách nào đó lên hoạt động của họ, tạo áp lực ngược lại cho các cơ quan điều tiết cũng như những nhà hoạch định chính sách để có những chính sách tốt.

Về tiến độ thực hiện, có thể có những điểm thực sự gấp gáp mà các tổ chức tín dụng sẽ không thể đáp ứng ngay ngày 1/10/2010. Tuy nhiên, việc giãn tiến độ cho tất cả hệ thống sẽ  không có tác dụng vì trên thực tế không chỉ riêng Việt Nam mà hầu hết mọi nơi đều có tâm lý “nước đến chân mới nhảy”. Quy định mới thì người ta thường xuyên kêu ca nhưng chỉ tìm ra những giải pháp vào tối ngày hôm trước khi quy định có hiệu lực. Càng trì hoãn thì quy định càng kém hiệu lực.

Tóm lại, phản đối của các tổ chức tài chính về Thông tư 13 là điều dễ hiểu vì những quy định chặt chẽ sẽ làm tăng chi phí cũng như hạn chế hoạt động của họ. Tuy nhiên, từ góc nhìn của người viết, đây là một văn bản tốt cần được triển khai một cách nghiêm minh.

Khi triển khai thông tư này cũng như những văn bản pháp luật khác, Ngân hàng Nhà nước tuyệt đối không nên gia hạn việc áp dụng cho cả hệ thống. Nếu cần, có thể xem xét quyết định lộ trình cụ thể cho từng ngân hàng với từng điểm cụ thể.
Theo TBKTVN

 

Cập nhật ngày Thứ hai, 23 Tháng 8 2010 20:18
 
Dòng vốn FDI: Lắm mối đâm khó quản PDF. In Email
Viết bởi Quản trị 1   
Thứ sáu, 13 Tháng 8 2010 17:25

AAT - Với gần 60 tỷ USD đã được giải ngân trong 22 năm qua, năm 2009, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đóng góp 18,33% GDP, bổ sung 2,5 tỷ USD vào nguồn thu ngân sách, tạo việc làm cho trên 2 triệu lao động trực tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp khác.

“Việt Nam đã tương đối thành công trong thu hút vốn FDI”, nhân phát biểu tại hội nghị tập huấn về thống kê đầu tư nước ngoài cuối tháng 7, Phó cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Đặng Xuân Quang đã nhìn nhận khá lạc quan về vai trò và những gì mà khu vực doanh nghiệp này mang lại, từ các con số trích dẫn trên.

Nhưng trên thực tế, việc quản lý dòng vốn FDI vào và ra cũng đang gây không ít khó khăn cho cơ quan quản lý.

Nhập siêu, báo lỗ, chuyển giá...

Ngay trong những “đóng góp” của khu vực FDI, đã thấy xuất hiện những nghịch lý. Với tỷ lệ đóng góp chiếm gần 1/5 GDP, năm 2009, các doanh nghiệp này lại chỉ nộp ngân sách nhà nước chưa bằng 1/10 tổng thu cân đối ngân sách nhà nước (tác giả tính toán trên số ước thực hiện GDP, thu ngân sách và tỷ giá cuối kỳ của Kho bạc Nhà nước năm 2009).

Chuyện các doanh nghiệp FDI chuyển giá đã được nhiều chuyên gia nói đến gần đây và được hiểu là hành động nâng khống giá hàng nhập từ công ty mẹ và giảm giá bán từ cơ sở sản xuất tại Việt Nam nhằm chuyển khoản lợi nhuận lớn hơn ra nước ngoài, tránh bị đánh thuế thu nhập doanh nghiệp 25%.

Theo Cục Thuế Tp.HCM, 60% doanh nghiệp FDI hoạt động trên địa bàn này báo lỗ trong năm 2009, năm 2008 là 50% và năm 2007 là 70%. Tuy nhiên, rất nhiều trong số này tiếp tục mở rộng sản xuất tại Việt Nam.

Theo chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh, việc các doanh nghiệp FDI chuyển giá không chỉ làm thất thu thuế đối với Việt Nam, nhưng đồng thời cũng đẩy nhập siêu của Việt Nam ngày càng trầm trọng hơn.

Trên thực tế, các doanh nghiệp FDI liên tục nhập siêu trong nhiều năm nay. Nếu bỏ dầu thô khỏi kim ngạch xuất khẩu của khối này, năm 2008 các doanh nghiệp FDI nhập siêu khoảng 4,14 tỷ USD; năm 2009 là gần 1,23 tỷ USD; 7 tháng đầu năm nay xấp xỉ 1,78 tỷ USD, theo Tổng cục Thống kê.

Ở một góc nhìn khác, trong cán cân thanh toán tổng thể của Việt Nam, thu nhập đầu tư (thuộc cán cân vãng lai) liên tục âm nhiều năm nay, năm 2007 âm 3 tỷ USD, 2008 và 2009 cùng âm 4,9 tỷ USD.

Theo quy định tại Nghị định số 164/1999/NĐ-CP về quản lý cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam, hạng mục thu nhập đầu tư bao gồm lãi phải trả cho các khoản vay nợ nước ngoài, lợi nhuận nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp được hưởng...

Tham chiếu với bản tin nợ nước ngoài số 5 được Bộ Tài chính công bố mới đây, trả nợ lãi và phí cho nợ nước ngoài nhiều năm nay chưa vượt quá 500 triệu USD/năm. Trong 3 năm gần đây, dù số lãi và phí phải trả có cao hơn trước nhưng 2007 mới là 382,07 triệu USD; 2008 là 424,39 triệu USD; và 2009 là 484,38 triệu USD.

Như vậy, không kể khoản lãi được sử dụng tái đầu tư, được chuyển ghi vào mục vốn FDI ròng (thuộc cán cân vốn và tài chính), số tiền lãi của các doanh nghiệp FDI cũng khá lớn. Tuy nhiên, có thể con số chưa thể hiện hết thực tế hoạt động của khối doanh nghiệp này.

“Chuyện doanh nghiệp FDI chuyển lợi nhuận về nước, rất nhiều trường hợp tôi biết là không chuyển qua tài khoản tại ngân hàng mà chuyển bằng tiền mặt, cho vào container chuyển đi, hoặc móc ngoặc với người Việt Nam thanh toán tại nước ngoài”, chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh cho biết.

Lắm mối đâm khó quản

Đối với công tác quản lý dòng vốn FDI của cơ quan chức năng, hiện nay, số liệu vốn đầu tư nước ngoài được định kỳ tổng hợp từ số liệu báo cáo của các địa phương đối với vốn chuyển vào và từ doanh nghiệp đối với vốn chuyển ra. Cục Đầu tư nước ngoài là cơ quan duy nhất có thể tổng hợp được một cách tương đối đầy đủ số liệu.

Tuy vậy, công tác thu thập thông tin về đầu tư nước ngoài còn rất nhiều tồn tại.

Số liệu vốn thực hiện địa phương báo cáo về Cục hiện nay là số liệu tổng hợp về giá trị của vốn đã thực hiện, không phân chia theo các yếu tố cấu thành như vốn chủ sở hữu, lợi nhuận tái đầu tư…, cũng không chia được thành vốn bằng tiền mặt và vốn bằng hiện vật như máy móc thiết bị, nhà xưởng, giá trị quyền sử dụng đất… và các khoản tương đương tiền như công nghệ, bí quyết kỹ thuật, thương hiệu…

Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm thống kê dòng vốn vào và ra khỏi nền kinh tế qua kênh ngân hàng (vốn bằng tiền) làm căn cứ để lập, phân tích cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam, nhưng lại không có đủ nguồn dữ liệu để tính toán dòng vốn chuyển vào và ra qua các hoạt động đầu tư trực tiếp, do vậy không bổ sung và đối chiếu dữ liệu được với Cục Đầu tư nước ngoài về các dòng FDI vào và ra.

“Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính thế giới, các dòng vốn chuyển vào và chuyển ra biến động tương đối mạnh, việc không có nguồn số liệu chính xác và kịp thời để tính toán cân bằng tổng thể trong cán cân thanh toán, từ đó có những quyết sách kịp thời và đúng đắn ứng phó với những biến động bên ngoài khiến cho các chính sách tỷ giá và tiền tệ trở nên kém linh hoạt và chậm trễ, ảnh hưởng tới điều tiết vĩ mô...”, Phó cục trưởng Quang cho biết.

Về phía Ngân hàng Nhà nước, trả lời cho câu hỏi về các con số tách bạch trong cán cân thu nhập đầu tư đơn giản chỉ là: “Đây là số liệu mật”. Với nhiều chuyên gia kinh tế được VnEconomy tham vấn, chi tiết số liệu về cán cân thu nhập đầu tư là khó khăn vì số liệu lâu nay không được thống kê đầy đủ.

Bình luận về vấn đề này, chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh cho rằng: “Thống kê cũng không được thì quản lý như thế nào là vấn đề. Nó sẽ xảy ra câu chuyện là chúng ta không nắm được cán cân thực sự là như thế nào”.

Cũng theo ông Ánh, việc không quản lý được dòng tiền có thể ảnh hưởng đến an toàn tài chính. Ngoài ra, nếu không quản được, dòng tiền có khả năng làm trầm trọng hơn vấn đề Đô la hóa tại Việt Nam, vì hoàn toàn có khả năng USD tài khoản được chuyển sang USD tiền mặt.

“Tình trạng này dẫn đến không thể kiểm soát được ngoại tệ ra và vào Việt Nam, thậm chí có khả năng vô hiệu quá chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước”, ông Ánh nói.

Theo TBKTVN

Cập nhật ngày Thứ ba, 31 Tháng 8 2010 21:27
 
Kiếm cả tỷ USD nhờ bị sa thải PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ sáu, 13 Tháng 8 2010 14:33

AAT - Ra đi trong những hoàn cảnh không mấy dễ chịu nhưng tổng giám đốc (CEO) của các tập đoàn lớn lại kiếm được bộn tiền, thậm chí cả tỷ USD chính nhờ bị sa thải.

Hãng tin CNBC đã phối hợp cùng Equilar – một công ty chuyên nghiên cứu các khoản bồi thường cho lãnh đạo – tính toán giá trị của một số khoản đền bù kỷ lục cho CEO trong lịch sử.

Dưới đây là danh sách 10 CEO có khoản đền bù kỷ lục.

 

 

 

1. William McGuire

Gói bồi thường: 1,2 tỉ USD
Công ty: UnitedHealth Group
Nhiệm kỳ: 1991 – 2006
Giá cổ phiếu thay đổi trong nhiệm kỳ: +5.378%

Dù nhận được khoản bồi thường lớn nhất trong lịch sự, sau khi rời bỏ chức vụ, McGuire cũng phải bồi thường khoản tiền trị giá hơn 400 triệu USD để giải quyết một vài vụ kiện dân sự và đơn kiện của Ủy ban Chứng khoán Mỹ liên quan đến việc thực hiện các quyền chọn cổ phiếu của công ty. Theo một phần thỏa thuận của McGuire với SEC, ông phải đồng ý không làm nhân viên hay giám đốc của một công ty đại chúng trong 10 năm kể từ ngày rời UnitedHealth Group.

2. Lee Raymond

Gói bồi thường: 392,5 triệu USD
Công ty: ExxonMobil
Nhiệm kỳ: 1999 – 2005
Giá cổ phiếu thay đổi trong nhiệm kỳ: +63%

Raymond làm CEO của Exxon Corporation từ năm 1993 cho đến khi tập đoàn này sáp nhập với Mobil Oil năm 1999. Ông gia nhập Exxon năm 1963 với chức vụ là một kĩ sư nghiên cứu sản xuất và dần dần thăng tiến lên CEO. Ông nghỉ hưu năm 1995 và người kế nhiệm ông là Rex Tillerson.

3. Robert Nardelli

Gói bồi thường: 212 triệu USD
Công ty: Home Depot
Nhiệm kỳ: 2000 – 2007
Giá cổ phiếu thay đổi trong nhiệm kỳ: -4%

Nardelli đã phải rời bỏ vị trí này sau một năm chịu những chỉ trích nặng nề về mọi công việc, từ chế độ lương bổng cho đến trình độ quản lý doanh nghiệp yếu kém.

4. Henry McKinnell

Gói bồi thường: 195,8 triệu USD
Công ty: Pfizer
Nhiệm kỳ: 2001 – 2006
Giá cổ phiếu thay đổi trong nhiệm kỳ: -36%

Vài tháng trước khi McKinnell về hưu, ông đã làm cho Hội đồng quản trị của Pfizer lo sốt vó vì phong cách lãnh đạo của mình đồng thời gây ra rất nhiều cuộc tranh cãi về việc tung sản phẩm mới ra thị trường.

5. Stanley O'Neal

Gói bồi thường: 161,5 triệu USD
Công ty: Merrill Lynch
Nhiệm kỳ: 2002 – 2007
Giá cổ phiếu thay đổi trong nhiệm kỳ: +51%

O’Neal bị đổ lỗi là đã làm công ty mắc phải những khoản nợ dưới chuẩn và bị lỗ 8 tỉ USD vào mùa hè năm 2007. Người được chọn thay thế O’Neal là John Thain.

6. Michael Ovitz

Gói bồi thường: 81,6 triệu USD
Công ty: Walt Disney
Nhiệm kỳ: 1995 – 1997
Giá cổ phiếu thay đổi trong nhiệm kỳ: +23%

Ovitz làm CEO cho Walt Disney chỉ được 14 tháng trước khi ra đi và nhận một khoản đền bù khổng lồ. Các nhà đầu tư đã kiện Disney vì gói bồi thường này, nhưng cuối cùng Disney thắng và Ovitz vẫn nhận được đầy đủ số tiền đó.

7. Charles Prince

Gói bồi thường: 41,9 triệu USD
Công ty: Citigroup
Nhiệm kỳ: 2003 – 2007
Giá cổ phiếu thay đổi trong nhiệm kỳ: -6%

Prince đã phải về vườn sau những khoản thua lỗ liên quan đến các vụ đầu tư vào chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS) và giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO), gây thất thoát hàng tỉ USD vào quý 3/2007.

8. Mark Hurd

Gói bồi thường: 33,1 triệu USD
Công ty: Hewlett-Packard
Nhiệm kỳ: 2005 – 2010
Giá cổ phiếu thay đổi trong nhiệm kỳ: +123%

Hurd đã phải rời HP sau hàng loạt scandal liên quan đến báo cáo chi tiêu giả mạo và scadal tình ái với một nhân viên thời vụ sau khi cô này tố cáo ông này có hành vi quấy rối.

9. Rick Wagoner

Gói bồi thường: 10,8 triệu USD
Công ty: General Motors
Nhiệm kỳ: 2000 - 2009
Giá cổ phiếu thay đổi trong nhiệm kỳ: -47%

Wagoner đã bị buộc phải từ chức bởi chính quyền của tổng thống Obama vào tháng 3 vừa rồi trong nỗ lực giải cứu của chính phủ. Vài tháng sau, GM phải nộp đơn xin bảo hộ phá sản. Đây là động thái mà Wagoner đã kịch liệt phản đối trong những tháng cuối tại nhiệm.

10. Richard Syron

Gói bồi thường: 3,8 triệu USD
Công ty: Freddie Mac
Nhiệm kỳ: 2003-2008
Giá cổ phiếu thay đổi trong nhiệm kỳ: -98%

Syron chính là người đứng mũi chịu sào của đại gia cho vay thế chấp Freddie Mac trong vụ vỡ bong bóng nhà đất lớn nhất lịch sử nước Mỹ. Người trong cuộc nói rằng vị cựu CEO này đã bác bỏ tất cả những lời cảnh báo nội bộ có thể giúp công ty tránh được phần nào những tổn thất mà họ phải gánh chịu.

 

Cập nhật ngày Thứ hai, 23 Tháng 8 2010 20:25
 
Lợi nhuận ngân hàng nửa năm 2010 đang “lộ sáng” PDF. In Email
Viết bởi Quản trị 1   
Thứ bảy, 17 Tháng 7 2010 10:09

alt

AAT - Bức tranh lợi nhuận ngân hàng 6 tháng đầu năm 2010 đang dần hé mở. Dù chưa rõ nét nhưng đã có những kết quả đáng chú ý.

Đọc thêm...
 
Phố Wall chao đảo, Dow Jones mất gần 3% PDF. In Email
Viết bởi Quản trị 1   
Thứ bảy, 17 Tháng 7 2010 09:59

alt

AAT - Doanh thu quý 2 của các ngân hàng thấp hơn dự báo trong khi kết quả một cuộc điều tra cho thấy người tiêu dùng Mỹ đang trở nên mất niềm tin hơn, đã khiến thị trường chứng khoán Mỹ chao đảo trong toàn phiên cuối tuần, xóa sạch tất cả những gì đã giành được trong tuần.

Cập nhật ngày Thứ bảy, 17 Tháng 7 2010 10:08
Đọc thêm...
 
Tuyển Giám đốc chi nhánh cho AAT tại Tp. Hồ Chí Minh PDF. In Email
Viết bởi Quản trị 1   
Thứ sáu, 16 Tháng 7 2010 09:29

alt

AAT - Chúng tôi, CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ  KIỂM TOÁN, KẾ TOÁN VÀ TƯ VẤN THUẾ AAT, là Công ty Kiểm toán được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận được phép kiểm toán các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chứng kinh doanh chứng khoán năm 2009, 2010 đang mở rộng phát triển hoạt động tại các tỉnh phía Nam có nhu cầu tuyển dụng Giám đốc Chi nhánh Công ty tại TP. Hồ Chí Minh với các nội dung sau:

Cập nhật ngày Thứ bảy, 17 Tháng 7 2010 20:11
Đọc thêm...
 
«<12345678910>»

Copyright © 2009 AAT Services Co., Ltd - Tư vấn Kiểm toán, Kế toán, Tư vấn Thuế, Tài chính doanh nghiêp.
Công ty TNHH Dịch vụ Kiểm toán, Kế toán & Tư vấn Thuế AAT

Địa chỉ:     Phòng 2407 Nhà 34T Khu Đô thị mới Trung Hòa - Nhân Chính - đường Hoàng Đạo Thúy, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại:     84-4. 22210082 / 22413585 / 22410949
Fax:     84-4. 22410084   -  Email:     info@aat.com.vn